Trang

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023

CHỈ SỐ MỚI GIÚP DỰ ĐOÁN BẤT THƯỜNG HỒI LƯU TĨNH MẠCH PHỔI TOÀN PHẦN Ở THAI NHI

 DỰ ĐOÁN BẤT THƯỜNG HỒI LƯU TĨNH MẠCH PHỔI TOÀN PHẦN Ở THAI NHI TỪ 17 – 37 TUẦN BẰNG CHỈ SỐ GIỮA KHOẢNG KHÔNG GIAN SAU TÂM NHĨ TRÁI VÀ ĐƯỜNG KÍNH CHÉO

 

Bs Võ Tá Sơn

Bệnh viện Vinmec Times City, Hà Nội

 

TỔNG QUAN

 

Bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi toàn phần (TAPVC) là một dạng bất thường tim hiếm gặp, đặc trưng bởi sự kết nối bất thường của cả 4 tĩnh mạch phổi, đổ vào tâm nhĩ phải thay vì tâm nhĩ trái như bình thường. TAPVC có tắc nghẽn các tĩnh mạch phổi thường đòi hỏi phẫu thuật cấp cứu và đi kèm với bệnh tật và tử vong sơ sinh nặng.

 

Chẩn đoán trươc sinh của TAPVC vẫn là thách thức, với tỷ lệ phát hiện được báo cáo chỉ 1.9-10%. Trong nhiều thập kỷ, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu về việc tăng khoảng cách giữa tâm nhĩ trái và động mạch chủ xuống (LDD), còn được biết với tên gọi là khoảng không sau tâm nhĩ, như là một chỉ dấu chẩn đoán cho TAPVC. Kawazu và cộng sự là người đầu tiên báo cáo về chỉ số khoảng không sau tâm nhĩ trái (PLAS), cho thấy chỉ số này tăng lên trong trường hợp TAPVC so với những trường hợp tim thai bình thường. Một nghiên cứu khác cho thấy hầu hết các thai nhi có TAPVC đơn độc có kích thước tâm nhĩ trái nhỏ hơn đáng kể và khoảng không sau tâm nhĩ lớn hơn so với thai bình thường.

 

Việc quan sát cả hai hiện tượng tăng khoảng không gian sau tâm nhi và giảm kích thước tâm nhĩ trái sẽ là một dấu hiệu hữu ích và có thể cải thiện việc phát hiện trước sinh của TAPVR. Do đó, chúng tôi đã tạo ra một công cụ sàng lọc mới bằng cách kết hợp hai dấu hiệu này thành một chỉ số duy nhất, được dọi là tỷ lệ khoảng không gian sau tâm nhĩ trái so với đường chéo tâm nhĩ (LAPSD). Tỷ lệ này được tính bằng cách chia khoảng không gian sau tâm nhĩ cho đường kính chéo của tâm nhĩ trái. Chúng tôi đã đưa ra giả thuyết rằng tỷ lệ LAPSA của thai nhi mắc TAPVC sẽ cao hơn đáng kể so với thai bình thường do không gian phía sau tâm nhĩ tăng lên và kích thước tâm nhĩ trái giảm xuống khi có sự hiện diện của TAPVC.



Ngực thai nhi ở mức mặt cắt bốn buồng (4CV) trong thời kỳ cuối tâm thu. 

(a)  4CV tim thai bình thường cho thấy một đường tham chiếu từ gối nội mạc đến giữa động mạch chủ xuống, được sử dụng để đo khoảng cách giữa tâm nhĩ trái và động mạch chủ xuống (LDD), đường kính chéo của tâm nhĩ trái (LA) và đường kính động mạch chủ (DA), để tính tỷ lệ giữa không gian sau tâm nhĩ trái và đường chéo (LDD/LA) và chỉ số không gian sau tâm nhĩ trái (LDD/DA).

(b)  Vẽ sơ đồ hình ảnh trong ( a ). 

(c)  4CV từ phía bên ở thai nhi có bất thường kết nối tĩnh mạch toàn phần (TAPVC) (Trường hợp 2), cho thấy kích thước tâm nhĩ trái nhỏ. 

(d)  4CV từ đỉnh ở thai nhi với TAPVC phức tạp (Trường hợp 16), cho thấy hợp lưu tĩnh mạch phổi (mũi tên) giữa tâm nhĩ trái và động mạch chủ xuống. Lưu ý rằng đường kẻ bắt đầu từ điểm giữa của van nhĩ thất chung. 

LV, tâm thất trái; RA, tâm nhĩ phải; RV, tâm thất phải.

 

Mục tiêu của nghiên cứu này là thiết lập biểu đồ cho tỷ lệ LAPSD và chỉ số PLAS ở thai nhi có tim bình thường trong khoảng thời gian từ 17 đến 37 tuần tuổi thai, để đánh giá mối tương quan của chúng với tuổi thai (GA) và các biến số sinh trắc học khác và để đánh giá mối quan hệ giữa độ tin cậy của phép đo nội bộ của hai tham số. Chúng tôi cũng đã xác định được ngưỡng giới hạn tốt nhất cho tỷ lệ LAPSD và chỉ số PLAS để phân biệt giữa TAPVC và thai nhi bình thường và so sánh hiệu suất chẩn đoán của chúng trong quá trình phát hiện TAPVC trước khi sinh.

 

PHƯƠNG PHÁP

 

Đây là một đánh giá cắt ngang tiến cứu 428 thai nhi có cấu trúc bình thường trong khoảng từ 17 đến 37 tuần tuổi thai và một nghiên cứu hồi cứu 27 thai nhi TAPVC. 

 

·      Tỷ lệ LAPSD của thai nhi được tính bằng cách chia khoảng cách động mạch chủ xuống - tâm nhĩ trái (LDD) cho đường kính chéo tâm nhĩ trái (LA). 

 

·      Chỉ số PLAS được tính bằng tỷ lệ của LDD với đường kính động mạch chủ xuống (DA). 

 

Phân tích tương quan của Pearson được sử dụng để kiểm tra mối tương quan của các thông số tim với tuổi thai (GA) và sự phát triển của thai nhi. Chỉ số PLAS và tỷ lệ LAPSD được so sánh giữa nhóm bình thường và nhóm TAPVC để đánh giá tính hữu ích của chúng trong chẩn đoán TAPVC trước khi sinh.

 

Chỉ số PLAS và tỷ lệ LAPSD được xác định trên mặt cắt 4CV trong giai đoạn cuối tâm thu. Theo mô tả của Kawazu và cộng sự, một đường tưởng tượng từ gối nội mạc của tim đến trung tâm của động mạch chủ xuống được vẽ. Sau đó, LA được đo từ một đường kéo dài từ gối nội mạc đến mép ngoài của thành sau tâm nhĩ trái. Để đo liên tục theo một đường thẳng trên cùng một hình ảnh, LDD được đo từ mép ngoài của thành sau nhĩ trái đến mép ngoài của thành trước của động mạch chủ xuống. Đường kính động mạch chủ xuống (DA) được đo giữa các bờ trong. 

 

Chỉ số PLAS được tính bằng cách chia LDD cho DA và tỷ lệ LAPSD được tính bằng cách chia LDD cho LA.

 

KẾT QUẢ

 

Các phép đo LDD, LA và DA cho thấy mối tương quan tích cực từ trung bình đến mạnh, trong khi cả tỷ lệ LAPSD và chỉ số PLAS đều cho thấy sự giảm nhẹ khi tăng GA và các biến số sinh trắc học. 

 

Tỷ lệ LAPSD và chỉ số PLAS của thai nhi trong các trường hợp TAPVC cao hơn đáng kể so với tỷ lệ của thai nhi có tim bình thường (cả P < 0,001). 

 

Không có sự khác biệt đáng kể về chỉ số PLAS và tỷ lệ LAPSD giữa các nhóm TAPVC đơn độc và không đơn độc (p<0.001). 

 

Không tìm thấy mối liên quan đáng kể nào giữa chỉ số PLAS và tỷ lệ LAPSD với giới tính thai nhi, hướng cắt bốn buồng (từ đỉnh, đáy hoặc bên) hoặc dạng TAPVC. 

 

Sử dụng các giá trị ≥ 0,35 cho tỷ lệ LAPSD và ≥ 1 cho chỉ số PLAS thể hiện hiệu suất chẩn đoán tuyệt vời tương tự, với độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 97,0% hoặc 95,1% để phát hiện TAPVC.

 

KẾT LUẬN

 

Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh rằng tỷ lệ LAPSD là một công cụ sàng lọc thiết thực và hiệu quả để chẩn đoán TAPVC thai nhi, tương tự như chỉ số PLAS. Việc kết hợp các thông số này vào quá trình siêu âm sàng lọc tim thai định kỳ có thể nâng cao khả năng phát hiện TAPVC trước khi sinh.

 

Những phát hiện mới của nghiên cứu này là gì?

 

Tỷ lệ không gian phía sau tâm nhĩ trái so với đường chéo tâm nhĩ trái (LAPSD) và chỉ số không gian sau tâm nhĩ trái (PLAS) cao hơn đáng kể trong các trường hợp bất thường kết nối tĩnh mạch phổi hoàn toàn (TAPVC) so với thai nhi có tim bình thường, không phụ thuộc vào việc liệu TAPVC đơn độc hay có kết hợp với bất thường tim khác. Ở thai nhi bình thường, tỷ lệ LAPSD và chỉ số PLAS giảm nhẹ trong thai kỳ và có thể được coi là các thông số không phụ thuộc vào tuổi tác. Cả hai chỉ số đều không phụ thuộc vào giới tính của thai nhi, loại kiểu hình bốn buồng (đỉnh, đáy hoặc bên), loại TAPVC và sự hiện diện của các bất thường tim bổ sung.

 

Ý nghĩa lâm sàng của nghiên cứu này là gì?

 

Ngưỡng ≥ 0,35 đối với tỷ lệ LAPSD và ≥ 1 đối với chỉ số PLAS đã thể hiện hiệu suất chẩn đoán tuyệt vời tương tự để phát hiện TAPVC của thai nhi, với độ nhạy 100% và độ đặc hiệu khoảng 96%. Tỷ lệ LAPSD là một yếu tố mới tiên đoán chẩn đoán có độ nhạy cao có thể được sử dụng để cải thiện khả năng phát hiện TAPVC trước khi sinh theo cách tương tự như chỉ số PLAS.

 

Tham khảo:

 

[*] Anuwutnavin, S., Unalome, V., Rekhawasin, T., Tongprasert, F. and Thongkloung, P. (2023), Fetal left-atrial posterior-space-to-diagonal ratio at 17–37 weeks' gestation for prediction of total anomalous pulmonary venous connection. Ultrasound Obstet Gynecol, 61: 488-496.

 


 


 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét