SÀNG LỌC TRƯỚC SINH KHÔNG XÂM LẤN (NIPS) CHO CÁC BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ Ở THAI NHI TRONG DÂN SỐ CHUNG:
HƯỚNG DẪN LÂM SÀNG DỰA TRÊN BẰNG CHỨNG CỦA HỘI DI TRUYỀN Y KHOA VÀ HỆ GENE HOA KỲ (ACMG)
Khuyến cáo:
· ACMG khuyến cáo NIPS cho tất cả phụ nữ mang thai với thai kỳ đơn thai đối với thể ba nhiễm sắc thể 21, 18 và 13 HƠN LÀ các phương pháp sàng lọc truyền thống (Khuyến cáo mạnh mẽ dựa trên bằng chứng chắc chắn cao).
· ACMG khuyến cáo NIPS để sàng lọc các lệch bội trong song thai thay vì các phương pháp truyền thống (Khuyến cáo mạnh mẽ dựa trên bằng chứng chắc chắn cao).
· ACMG khuyến cáo rằng NIPS nên được cung cấp cho bệnh nhân mang đơn thai để sàng lọc các bất thường nhiễm sắc thể giới tính (SCA) thai nhi (Khuyến cáo mạnh mẽ dựa trên bằng chứng chắc chắn cao).
· ACMG đề xuất rằng NIPS cho hội chứng mất đoạn 22q11.2 được cung cấp cho tất cả bệnh nhân (Khuyến cáo tuỳ theo điều kiện, dựa trên mức độ chắc chắn trung bình của bằng chứng).
· Tại thời điểm này, không có đủ bằng chứng để khuyến cáo sàng lọc thường quy cho các CNV khác ngoài mất đoạn 22q11.2 (Không có khuyến cáo, do thiếu bằng chứng và xác thực liên quan về mặt lâm sàng).
· Tại thời điểm này, không có đủ bằng chứng để khuyến cáo hoặc KHÔNG khuyến cáo NIPS để xác định RAT (Không có khuyến cáo, do thiếu bằng chứng lâm sàng liên quan).
NIPS sàng lọc vi mất đoạn 22q11.2 - ĐIỂM MỚI ĐÁNG CHÚ Ý
Một khuyến cáo có điều kiện nên được hiểu như sau: hầu hết bệnh nhân sẽ yêu cầu điều này và hầu hết các bác sĩ lâm sàng sẽ cung cấp NIPS cho mục đích này, sau khi thảo luận về lợi ích và hạn chế của sàng lọc và trong bối cảnh ra quyết định chung.
Thuật ngữ CNV được sử dụng ở đây để biểu thị sự mất cân bằng bộ gene theo từng đoạn, vi mất đoạn hoặc vi lặp đoạn nhưng không phải là sự mất cân bằng số lượng nhiễm sắc thể. Tỷ lệ mắc các CNV có liên quan về mặt lâm sàng ở thai nhi có nhiễm sắc thể đồ bình thường là khoảng 2% như đã được chứng minh qua các nghiên cứu chẩn đoán và cao hơn ở những thai nhi có dị tật giải phẫu đã biết. Nhìn chung, các CNV khá là hiếm; tuy nhiên, hội chứng mất đoạn 22q11.2 (22q11.2DS), CNV gây bệnh phổ biến nhất được xác định trước sinh, đã được ước tính có tỷ lệ từ 1/990 đến 1/2148. Không có tác động nào của tuổi mẹ được ghi nhận đối với tỷ lệ mắc CNV của thai nhi.
Hai cách tiếp cận chính để sàng lọc CNV đã được báo cáo: (1) nhắm mục tiêu các hội chứng vi mất đoạn/vi lặp đoạn cụ thể được công nhận và (2) cách tiếp cận toàn bộ bộ gene. Để phân tích hiệu suất sàng lọc, có lẽ sẽ phù hợp hơn nếu đánh giá hiệu quả sàng lọc CNV cho một bất thường cụ thể (ví dụ: 22q11.2DS) hơn là một nhóm chung các CNV. SER chứng minh rằng độ nhạy và độ đặc hiệu của sàng lọc CNV nói chung thấp hơn so với các lệch bội và SCA hay gặp.
Một nghiên cứu gần đây không được đưa vào SER, đã đánh giá triển vọng hiệu suất của NIPS dựa trên SNP đối với hội chứng vi mất đoạn phổ biến nhất, 22q11.2DS. Trong một nhóm gồm 18.289 trường hợp mang thai được xét nghiệm di truyền đầy đủ, các tác giả đã báo cáo phát hiện được 10/12 trường hợp mắc bệnh 22q11.2DS (sử dụng thuật toán cập nhật được phát triển trong quá trình phân tích dữ liệu sau khi quá trình đăng ký hoàn tất). Với ngưỡng cắt là 1/100, có 19 trường hợp dương tính với sàng lọc với FPR là 0,05%. PPV với phương pháp này là 52,6%. 11/12 đối tượng được lấy máu trong ba tháng đầu. Cần lưu ý rằng nhóm dân số này bao gồm các trường hợp mang thai sau đó được xác định là có dị tật cấu trúc thai nhi, do đó tỷ lệ mắc bệnh 22q11.2DS có thể cao hơn so với nhóm dân số mang thai nói chung.
Bằng chứng ủng hộ thêm cho NIPS cho 22q11.2DS đã được quan sát thấy trong một nghiên cứu về hiệu quả chi phí từ Hoa Kỳ, trong đó mô hình hóa 4 triệu thai phụ trải qua sàng lọc di truyền trước khi sinh. So với NIPS dành cho các trisomies phổ biến nhất, NIPS sàng lọc bổ sung 5 hội chứng vi mất đoạn, bao gồm 22q11.2DS, đã cải thiện hiệu quả thêm 977 năm sống được điều chỉnh theo chất lượng, giảm chi phí 90,9 triệu USD và là chiến lược sàng lọc chính ở >92% các nghiên cứu thử nghiệm.
KẾT LUẬN CỦA KHUYẾN CÁO
Kết quả chính của hướng dẫn này là ACMG khuyến cáo NIPS cho tất cả phụ nữ mang thai hơn là sàng lọc truyền thống đối với các nhiễm sắc thể thông thường (ở thai đơn và song thai) và SCA (thai đơn). Khuyến cáo này được thúc đẩy chủ yếu bởi các đặc điểm sàng lọc vượt trội tổng thể của NIPS. Ngoài ra, sự tiện lợi của việc lấy kết quả từ một lần lấy máu duy nhất trong ba tháng đầu là thuận lợi cho bệnh nhân.
Việc đưa NIPS vào thực hành lâm sàng đã giúp giảm đáng kể các xét nghiệm (chẩn đoán) xâm lấn. Bệnh nhân cần được biết có một sàng lọc chính xác và đáng tin cậy như vậy có thể loại bỏ phần lớn các xét nghiệm xâm lấn, là một lợi ích lớn.
Để cung cấp mức độ chăm sóc cao nhất và các khuyến cáo có ý nghĩa, việc tư vấn cẩn thận và kỹ lưỡng là bắt buộc. Việc nghiên cứu sâu thêm về sự đa dạng của các hình thức cung cấp thông tin cho tư vấn này được đảm bảo.
Cần nghiên cứu thêm để giải quyết một số khía cạnh của việc triển khai NIPS. Việc sàng lọc CNV cần được xác nhận thêm. Giáo dục và đào tạo các nhà cung cấp cung cấp NIPS nên được chuẩn hóa và cập nhật khi các sản phẩm mới được giới thiệu. Các tài liệu giáo dục thông tin không có lợi ích tiếp thị và cung cấp các lợi ích cũng như hạn chế của sàng lọc nên được phát triển và xác nhận. Tác động của các tác hại tiềm ẩn vẫn chưa được nghiên cứu kỹ và phải cụ thể đối với các hoàn cảnh khác nhau có trong các xét nghiệm NIPS khác nhau.
NIPS là một tiến bộ thay đổi thực hành trong chăm sóc trước khi sinh. Việc mở rộng nó vào sử dụng cho nhóm dân số chung nên được áp dụng với sự siêng năng và sự lưu tâm mà NIPS xứng đáng được hưởng.
THAM KHẢO
[*] ACMG PRACTICE GUIDELINE. Noninvasive prenatal screening (NIPS) for fetal chromosome abnormalities in a general-risk population: An evidence-based clinical guideline of the American College of Medical Genetics and Genomics (ACMG). Jeffrey S. Dungan, Susan Klugman, Sandra Darilek, Jennifer Malinowski, Yassmine M.N. Akkari, Kristin G. Monaghan, Angelika Erwin, Robert G. Best, on behalf of theACMG Board of Directors. Published:December 16, 2022

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét